ENG

Cha là nhà nho, mẹ nội trợ.

Lên bảy tuổi mồ côi cha. Mẹ ở vậy nuôi ba con nhỏ bằng gánh hàng rau.

Chín tuổi học thầy đồ trong làng.

Mười ba tuổi, theo thầy dạy vẽ đi khắp miền quê Nghệ An, Hà Tĩnh.

Mười bốn tuổi giúp mẹ kiếm sống bằng cách vẽ tranh thờ, nặn tò he bằng đất sét bán ở chợ quê vào dịp tết.

1911 Trở thành thầy đồ dạy chữ ở quê.

        Nghỉ dạy, đi học trường Pháp Việt ở tỉnh Hà Tĩnh, thi           đỗ bậc tiểu học.

1922 Thi đỗ trường Sư Phạm ở Huế.

1923 Tốt nghiệp trường Sư Phạm. Dạy học ở trường tiểu học Đống Ba, Huế. Một năm sau kết hôn với cô hàng xén mười sáu tuổi, quê ở tỉnh Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

1925 Là thí sinh duy nhất ở miền Trung thi đỗ khóa đầu tiên của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Ra Hà Nội học. Vợ ở quê sinh con gái đầu lòng – Nguyễn Nguyệt Tú.

1928 Nhận giải thưởng đầu tiên trong sự nghiệp tại cuộcthi tem do Sở Dây Thép Đông Dương và Cao Đẳng              Mỹ Thuật tổ chức.

        Con tem Ruộng Lúa (quen gọi là tem người đi cấy) trở thành chiếc tem thư đầu tiên của Đông Dương thuộcPháp.

1929 Hoàn thành các bức tranh sơn dầu: Trục Lúa, Mẹ bày          các con đan len.

         Thành công với các bức tranh lụa đầu tiên: Bữa cơm          Chải tóc.

1930 Tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương.

         Được giữ lại trường dạy học, là giáo sư không chính            ngạch.

1931 Lần đầu tiên tranh lụa An Nam được trưng bày tại              Đấu Xảo thuộc địa ở Paris, Nguyễn Phan Chánh nổi            tiếng với các tác phẩm: Rửa rau cầu ao, Em bé cho            chim ăn, Bữa Cơm, Người hát rong, Lên đồng và Chơi ô ăn quan.

         Dạy học tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương,          rồi trường Trung Học Bảo Hộ (tức trường Bưởi).

1932 Không được bổ nhiệm chính ngạch, cùng gia đình trở          lại quê nhà. Kiếm sống bằng nghề vẽ truyền thần và          tiếp tục vẽ tranh lụa.

1933 Đem tranh ra Hà Nội trưng bày tại triển lãm Đấu Xảo hàng năm, bị từ chối.

         Tự mở triển lãm cá nhân lần đầu tiên tại Địa Ốc Ngân Hàng Hà Nội. Bán hết 40 tranh trong ba ngày.

1935-1936 Tham gia các cuộc triển lãm tranh do Hội                  Chấn Hưng Mỹ Thuật và Kỹ Thuật (SADEA) tổ chức ở Hà Nội.

1938 Triển lãm cá nhân lần thứ hai tại Hội Khai Trí Tiến              Đức, Hà Nội; được công chúng Hà Nội đánh giá cao            với các tác phẩm tiêu biểu: Thiếu Nữ trên cành đào,            Thiếu nữ trước biển, Nhảy dây, Chăn trâu trong rừng, Đôi chim bồ câu, Những người thợ cấy, Đi chợ tết, Rạng đông vạn chài. Tranh có sự chuyển hướng về màu sắc.

        Tham gia triển lãm bộ ba: Nguyễn Phan Chánh-họa           sĩ, Võ An Ninh-nhiếp ảnh và Julien Bate-họa sĩ tại hội         Trí Tri Bắc Kỳ, Hà Nội.

1939 Gửi sang Pháp các tác phẩm lụa cỡ lớn: Mở đông đi            cày, Chim sổ lồng, Chị em đùa cá.

         Mất toàn bộ số tranh này trong Đại chiến thế giới thứ          hai.

         Tiếp tục đi lấy ký họa và vẽ truyền thần.

1945 Tham gia cách mạng. là Ủy viên Ban chấp hành Hội            văn hóa cứu quốc tỉnh Hà Tĩnh. Vẽ tranh tuyên                  truyền cổ động phục vụ cách mạng. Các tác phẩm              tiêu biểu: Phá khám lớn Sài Gòn, Đốt kho bom Thị Nghè, Cây đuốc sống.

1949 Vẽ tranh sơn dầu Nữ cán bộ đi công tác.

1955 Sau hòa bình, trường Cao Đẳng Mỹ Thuật được thành lập. Được mời làm giảng viên hội họa của trường. Ra Hà Nội, sống tại nhà tập thể của Hội Liên hiệp Văn Học nghệ thuật Việt Nam, số 55 Nguyễn Thái Học Hà Nội.

         Tác phẩm tiêu biểu: Cầu Thê Húc, Đền Ngọc Sơn,              Nam Bắc một nhà, Cán bộ về Tết, Thiếu Nhi kết hoa          ảnh Bác, Chữ Phúc.

1956 Trở lại sáng tác tranh lụa.

         Thể nghiệm sáng tác theo phương pháp “nhất bút               thế” (vẽ liền một nét, không rửa lụa, không tô lại)             qua hai tác phẩm: bừa tập đoàn và chống hạn tập             đoàn. Không thành công, bỏ lối vẽ này.

1957 Được bầu là Ủy viên ban chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam, khóa 1. Các tác phẩm tiêu biểu: Trong sân đình Kim Liên, Trước Đình Kim Liên, Cô Hàng Xén, Cô thêu, Mẽ con nhà thỏ, sau giờ lao động, chống hạn.

1958 Tham gia triển lãm nghệ thuật tạo hình các nước Xã            hội chủ nghĩa với tác phẩm lụa Sau giờ lao động.

1959 Sáng tác tranh lụa: Học tổ, Nhóm trẻ hợp tác, Chị              hàng hoa, Nhà máy dệt kim.

1960 Dự triển lãm mỹ thuật toàn quốc với các tác phẩm              tranh lụa: Sau giờ lao động, Nhóm trẻ hợp tác, Bữa            cơm vụ mùa thắng lợi, Rê lúa, Tổ đan mây...

1962 Đại biểu đại hội liên hoan anh hùng và Chiến sỹ thi            đua toàn quốc lần thứ III.

         Triển lãm cá nhân tại số 10 Hàng Đào, Hà Nội do Hội          liên hiệp Văn học nghệ thuật và hội mỹ thuật Việt              Nam tổ chức. Các tác phẩm chính: Chân dung tự                họa, Sau giờ lao động, Vườn trẻ nông thôn.

         Trở lại đỉnh cao sáng tác tranh lụa.

1964 Đại biểu quốc hội khóa III nước Việt Nam dân chủ              Cộng Hòa.

1965 Đi vẽ ký họa ở Phú Thọ, Bắc Ninh.

1967 Tác phẩm lụa đầu tiên về cuộc kháng chiến chống              Mỹ: Sau giờ trực chiến.

1968 Sáng tác tranh lụa: Trăng tỏ, Hạnh phúc.

1969 Sáng tác tranh lụa: Tắm cho con.

1970 Sáng tác tranh lụa: Trăng Lu, Chống hạn gặp mưa,            Rạng sáng cho con bú.

1971 Các tác phẩm chính: Chị chăn vịt, Hộ đê, Múa ong bò          vẽ.

1972 Triển lãm cá nhân tại Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam              nhân ngày sinh nhật lần thứ 80. Triển lãm được tổ              chức dưới tầng hầm của bảo tàng Mỹ Thuật vì lúc                này Mỹ vẫn đang ném bom tại Hà Nội. Sau đó triển            lãm tại số 10 Nguyễn Cảnh Chân, Hà Nội, trụ sở của          Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

         Các sáng tác mới: Cưỡi bò qua sông, Tối về cho con          bú, Cô gái học võ.

         Vẽ lại tranh: Chơi ô ăn quan, Em bé cho chim ăn,               Rửa rau cầu ao, Lên Đồng (những tranh này vẽ lần             đầu năm 1931) theo đề nghị của Bảo Tàng Mỹ Thuật           Việt Nam.

1973 Những sáng tác lụa cuối cùng về chủ đề tắm: Lội                suối, Kiều tắm, Tiên Dung tắm, Tiên Dung và Chử              Đồng Tử.

1974 Tham dự triển lãm tranh tượng về đề tài lực lược vũ            trang với tranh lụa Sau giờ trực chiến.

1978 Triển lãm cá nhân lần thứ hai tại Bảo Tàng Mỹ Thuật          Việt Nam nhân ngày sinh nhật lần thứ 85.

1982 Triển lãm cá nhân tại Praha, Bratislava, Budapest,              do bộ văn hóa tổ chức nhân ngày sinh nhật lần thứ            90.

1983 Triển lãm cá nhân tại Matxcơva, Vacsava, Bucaret              do bộ văn hóa tổ chức.

1984 Mất ngày 22 tháng 11 tại Hà Nội. An táng tại nghĩa              trang Mai Dịch Hà Nội.

1996 Được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam          truy tặng giải thưởng cao quý nhất: Giải thưởng Hồ            Chí Minh về văn học và nghệ thuật.

 

      "Ai có thể nói rằng một bức lụa dù đẹp đến đâu có thể tồn tại mãi mãi. Màu sắc tươi tắn đến mấy rồi cũng phai. Nét vẽ dù đẹp đến mấy cũng không thể giữ mãi. Bản thân người nghệ sỹ rồi cũng mất. Cái còn lại mãi với thời gian là tình người. Tình người đã giúp tôi vượt qua giông bão của cuộc đời. Tình người trong nghệ thuật của tôi đã tạo nên niềm cảm thông giữa tôi và bè bạn trong nước cũng như ngoài nước"

      Nguyễn Phan Chánh đã mất cách đây 26 năm, trong khoảng thời gian đó xã hội Việt Nam có biết bao thay đổi. Đó là sự tan biến của văn minh làng xã, những ngôi làng, đình đền chùa cổ, những người nông dân biến thành thị dân, và vì thế những bức tranh của ông còn mãi mang theo niềm bâng khuâng của một quá khứ nhà quê, mà mới ngày nào còn là hình ảnh thân thương với mọi người dân Việt.

      Đầu thế kỷ 20, tại Việt Nam xu hướng Âu hóa đã xuất hiện. Những thành thị mới ra đời, nhà máy và công xưởng, villa và âu phục tân thời.  Đời sống người nông dân lao đao vì nông nghiệp đình đốn, bất đắc dĩ đi phu phen ở các đồn điền.  Lớp trí thức và tư sản mới hình thành, đã dẫn đến một nền văn hóa mới trong các thành thị. Từ một thầy đồ dạy chữ ở quê, Nguyễn Phan Chánh là thí sinh duy nhất ở Miền Trung thi đỗ khóa đầu tiên của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.  Trong quá trình học tập, những giáo sư, nghệ sỹ người Pháp có con mắt bình đẳng và tinh tường, họ thấy ông khó thành công với bút pháp cổ điển hay Ấn tượng trên tranh sơn dầu, và họ khuyên ông tìm một con đường khác. Con đường nghệ thuật vốn có sẵn trong truyền thống văn hóa phương Đông và Việt Nam, chỉ cần tiếp nhận thêm những kiến thức cơ bản trong nghệ thuật phương Tây. Và một Nguyễn Phan Chánh đã trở thành danh họa ngay từ những năm 1930, với hình ảnh người nông dân Việt trên nền tranh lụa.

      Đời sống thị dân và nông thôn nửa đầu thế kỷ trước không quá khác biệt, ngay trong các thành thị vẫn tồn tại nhiều làng mạc và những tập tục hoàn toàn nguyên chất.  Hà Nội từ những năm 1900 đến 1960 chỉ ra khỏi trung tâm chừng 5 cây số đã là làng mạc.  Tuy nhiên nếp sống thị dân vẫn dần phát triển.  Lớp họa sỹ đầu tiên của Trường Cao Đảng Mỹ Thuật Đông Dương phần nhiều xuất thân từ những gia đình nông dân khá giả và thị dân đã hướng nghệ thuật vào đời sống của chính mình. Thời gian này, đề tài nông dân dường như ít được đề cập trong nghệ thuật, trừ vài tiểu thuyết hiện thực phê phán. Nguyễn Phan Chánh không chỉ vẫn đề cập đến họ, bởi nếu chỉ có thế ông đã không thành danh họa, mà bản thân họa sỹ luôn có tư chất nông dân trong hội họa của mình. Cái tư chất ấy từng làm nên giá trị của chùa Bút Tháp, chùa Mía, chùa Tây Phương và đặc biệt là những ngôi đình xứ Bắc, cái tư chất mà phải đến cuối thế kỷ 20 người ta mới thấy hay và quý hiếm, khi nền nghệ thuật hiện đại quá dư thừa sự mầu mè kiểu cách của lối sống đô thị.

      Việc tiếp nhận lối tạo hình phương Tây cho các họa sỹ Việt Nam truyền đạt chính xác hơn những gì nhìn thấy, thay vì lối vẽ ước lệ tượng trưng cổ truyền. Tuy nhiên các họa sỹ Việt Nam không thể thích hợp ngay với hình họa cổ điển, họ vẫn thực hiện tốt những bài tập như vậy trong nhà trường, khi sáng tác họ tìm thêm một con đường khác kết hợp khả năng tả thực và tính tượng trưng ước lệ phương Đông.  Ngay từ đầu một mạch ngầm dân tộc đã xuất hiện và âm thầm chẩy trong nền hội họa hiện đại. Có lẽ nó trở nên một phong cách hiện thực mới hình thành trong nửa đầu thế kỷ 20, và cũng chính nó giúp các họa sỹ biểu hiện đời sống của dân tộc mình, có một ngôn ngữ Việt trong nghệ thuật hội họa.

      Nếu như người vẽ sơn dầu được tiếp sức bởi các bài học từ hai người thầy như Tardieu, Inguimberty, những nghệ sỹ Châu Âu có tình cảm đặc biệt với Việt Nam đến mức có thể nhập vào tâm hồn người Việt để vẽ ra những cảnh vật và con người Việt.  Thì ở tranh sơn mài và tranh lụa,  tuy là những chất liệu có sãn từ truyền thống, nhưng người vẽ phải tự lực rất nhiều trên con đường của mình.

      Diễn tả không gian ba chiều trên chất liệu sơn mài và lụa tương đối khó khăn, không giống như sơn dầu. Trong lịch sử hội họa phương Đông không gian ba chiều cũng không phải là đối tượng được quan tâm.  Tuy nhiên hầu như chưa bao giờ các họa sỹ phương Đông vẽ được chiều sâu như họa sỹ Phục hưng, mà chỉ có thể vẽ không gian hai chiều, sau trở thành đặc điểm của hội họa phương Đông, một thứ không gian quan niệm nhiều hơn tái hiện sự thật.  Nhiều người cho rằng Nguyễn Phan Chánh không hợp với hội họa cổ điển phương Tây. Bản thân những ông thầy Pháp đã nhìn thấy ở họa sỹ một thiên hướng khác, mang tính phương Đông, và khuyến khích ông tìm lại con đường truyền thống. Xem nhiều bức ký họa của ông, ta thấy rõ từng phần được tả thực nhưng cái toàn thể vẫn mang tính ước lệ.  Cách vẽ này trùng hợp với lối họa phương Đông truyền thống, trong đó các họa sỹ  nhấn mạnh việc miêu tả sự vật ba chiều từng phần và không quá quan tâm đến không gian.

      Diễn tả được sự vật không phải là điều mà nghệ thuật phương Đông quan tâm.   Nguyễn Phan Chánh hiểu rõ điều này qua quá trình nghiên cứu nghệ thuật phương Đông nói chung, nghệ thuật Trung Hoa nói riêng. Sự vật khách quan chỉ là ảo ảnh, tâm không ứng thì vật không thành hình và vô nghĩa, tâm ứng thì vật được phản chiếu, và khi nào tâm vận động theo bút thì lấy hình sẽ không sai.  Có một phần học thuật phương Tây, một tinh thần nghệ thuật phương Đông, và cái tâm hướng về đời sống đơn sơ của người nông dân Việt Nam, Nguyễn Phan Chánh tự mình hình thành một nền hội họa tranh lụa mang đầy đủ những tinh thần nghệ thuật trong thời buổi giao lưu văn hóa Đông - Tây, mà ông tiếp nhận được. Nói như nhà văn Nguyễn Tuân : Trong cái nền nghệ thuật sơ khai của xứ này, ông đã tìm được một chỗ gọn để đặt tên. Cái “chỗ gọn” ấy có tên là nền hội họa mới của người Việt Nam, hay nền hội họa của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, và tên là Nguyễn Phan Chánh.

      Tuy nhiên điều lý thú lại nằm ở chỗ Nguyễn Phan Chánh chẳng vẽ giống ai trong các họa sỹ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Người ta thường nhắc đến bốn danh họa lớp đầu : Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân, Tô Ngọc Vân và Trần Văn Cẩn (Nhất Trí, nhì Lân, tam Vân, tứ Cẩn) và bốn danh họa lớp cuối Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái và Dương Bích Liên (Nghiêm, Liên, Sáng, Phái). Nguyễn Phan Chánh không có tên trong danh sách nào, bởi ông là một quả núi riêng, độc lập so với tất cả những người khác. Vấn đề không chỉ là phần lớn các họa sỹ hướng về đời sống thị dân, còn ông thì hướng về đời sống nông thôn, mà Nguyễn Phan Chánh luôn có tinh thần hiện đại ngay khi trình bầy một đời sống lạc hậu và nguyên chất nhất của người Việt Nam.

      Nguyễn Phan Chánh được đào tạo cách vẽ tranh sinh hoạt với bố cục hình lớn của  hội họa phương Tây, lối đơn giản hình thể thành từng mảng lớn không phụ thuộc vào cấu trúc cơ thể cũng đã được các họa sỹ Ấn tượng và Lập thể tìm tòi, và với chủ nghĩa Hiện đại (Modern art), lúc bấy giờ chưa chính thức vào Việt Nam nhưng đã nổi danh trên thế giới.  Hội họa đang có xu hướng quay lại không gian hai chiều. Suốt năm sáu mươi năm giữa thế kỷ 20, nhiều họa sỹ Việt Nam cố gắng tìm cách tả thực trên chất liệu sơn mài và lụa.  Bức tranh Giờ học tập, (Sơn mài – 1960 – 80x120 cm) của họa sỹ Nguyễn Sáng (1923 - 1988) là một ví dụ cho thấy tranh sơn mài phần nào bị hạn chế khi phải diễn tả khối, chiều sâu và ánh sáng.  Tranh lụa thâm trầm, sâu lắng và gợi ý, còn tranh sơn mài vẻ lộng lẫy được thăng hoa, đôi khi dẫn tới cảm giác trừu tượng.  Tranh sơn mài và tranh lụa đều hợp với không gian hai chiều và tính ước lệ ba chiều.  Hiện thực được thể hiện một cách tượng trưng, gợi ý luôn giúp ta cảm thấy nhiều hơn là nhận ra một sự thật.  Điều mà Nguyễn Gia Trí nhận thức rất rõ ràng trong tranh sơn mài và Nguyễn Phan Chánh trong tranh lụa. Các ông hiểu những đặc tính của hai chất liệu đó, hiểu giá trị tinh thần mà nó có khả năng biểu cảm, hiểu con đường phương Đông không có sẵn mà cần đi đúng hướng bởi đôi bàn chân hướng về cội nguồn nhưng không chậm tiến.

      Chọn nông dân và đời sống nông thôn để vẽ là con đường được vạch ra ngay từ đầu, không thay đổi kể cả khi sống ở Hà Nội.  Nguyễn Phan Chánh là họa sỹ nông dân một cách thuần khiết. Ông xây dựng những nhân vật của mình thành hình tượng con người Việt Nam, cũng như Bùi Xuân Phái vẽ phố cổ đến mức trở thành ký ức về Hà Nội của rất nhiều người. Đời sống nông thôn chính là xuất thân của họa sỹ, nhưng quê hương Hà Tĩnh của ông không phải làng quê quá trữ tình hay trù phú như các làng quê đồng bằng Bắc bộ, trái lại nó rất nghèo, khắc nghiệt, nhưng cũng rất đặc trưng để hun đúc ra con người nông dân dẻo dai, chịu khó và chân chất. Một vùng đất nhỏ hẹp nhưng có sơn có thủy, có đồng bằng và thừa mưa xa nắng đốt. Hà Tĩnh cũng là đất của nhiều danh nhân như Nguyễn Du, Phan Đình Phùng...nơi cái bản chất văn nghệ được tạo lập một cách đặc biệt trong những cá tính cũng đặc biệt.  Nguyễn Phan Chánh cảm nhận sâu sắc cái hiền lành thô phác của người nông dân, những tập tục cấy trồng, chăn thả và đời sống tín ngưỡng hoang đường bao giờ cũng gắn với các truyền thuyết của họ.  Giấm vải xuống bùn để nhuốm mầu đen, mài củ nâu để nhuộm nâu, dùng hoa hòe nhuộm vàng, lúa và hoa mầu, cây cối xanh tươi và thay lá trong bốn mùa, rơm rạ mùa gặt vàng ươm...những mầu sắc thường thấy trong cảnh sắc nông thôn.  Phối hợp giữa mầu nền của tấm lụa với mầu thuốc nước đơn giản, tranh của Nguyễn Phan Chánh thực ra chỉ thuần sắc mà rất ít mầu.  Những mầu đen, nâu, vàng được phối hợp nhuần nhuyễn trong trẻo, loại bỏ sự đối chọi gay gắt...  Và tất cả được ẩn dấu dưới vẻ mặt rất nhu thuần, dưới một sắc mầu nâu, đen của y phục, mầu xanh của cây cỏ, mầu vàng của rơm rạ và dường như chỉ có thế làm nên bảng mầu chính trong tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh.

      Mỗi khuôn mặt nhân vật, Nguyễn Phan Chánh thường chỉ nhận diện một cách khái quát, nét vẽ của ông tinh tế, nên chỉ rất đơn sơ đã ra thần thái của đối tượng. Mắt, mũi, miệng chỉ được gợi rất nhẹ trên khuôn mặt không tả kỹ, và cũng không tô mầu gì, nơi họa sỹ thường để nguyên nền lụa. Các phần khác, chủ yếu là y phục được khái quát thành mảng lớn, luôn ôm lấy những cơ thể khỏe mạnh của người nông dân. Khăn mỏ quạ, áo nâu sồng, váy hay quần chùng thâm, yếm sồi là những gì rất đặc trưng cho diện mạo người nông dân. Những cô gái chơi ô ăn quan, cô gái bên lồng chim, cô gái hái rau muống, cô hàng xén, cô gái cưỡi trâu...những con người đi vào trong tranh ông một cách bình thản, như một cắt cảnh tự nhiên ngoài đời sống đưa vào tranh. Họa sỹ dường như không phải cố gắng, thấy sao vẽ vậy, nhẹ nhàng nhận biết, thể hiện cũng kiệm mầu, kiệm hình như cuộc sống. Chính cái ngẫu nhiên và ngẫu hứng này làm nên những hình tượng nghệ thuật trong tranh Nguyễn Phan Chánh. Cuộc sống của một xã hội nông nghiệp, đương nhiên hình ảnh người nông dân không còn gì lạ lùng, nhưng ta cần nhìn nhận họ dưới góc độ văn hóa, dưới sự tích tụ của văn minh nông nghiệp, sự đặc trưng của các tính cách Việt, đó mới là công việc và sức mạnh của nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật thị giác.

Bùi Xuân Phái Cuộc Dời Và Tác Phẩm

Bùi Thanh Phương - Trần Hậu Tuấn

150.000 đ

Xuất thân trong một gia đình trí thức quan lại.

1925: Victor Tardieu thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội.

1944: Học khoa Hội họa của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, khoá XVIII (1944-1945).    

1945: Ngày 19/08 Cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời.

Từ 1925 – 1945 trường Mỹ thuật Đông Dương đào tạo 149 người.Tốt nghiệp 128 người (118 Hội hoạ và 10 điêu khắc).

1946:Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Dương Bích Liên và nhiều trí thức văn nghệ sĩ Hà Nội tham gia kháng chiến. Hoạt động ở đoàn kịch cuả Phạm Văn Khoa, Đoàn văn công cuả Nguyễn Xuân Khoát, vào Đoàn Văn hoá kháng chiến cùng với họa sĩ Tô Ngọc Vân, Thế Lữ … Làm báo “Vệ quốc  đoàn”.

1949: Được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam tại chiến khu kháng chiến, cùng đợt với họa sĩ Mai Văn Hiến, nhà văn Trần Đăng.

1952: Được tổ chức Đảng cử lên chiến khu Việt Bắc để vẽ Hồ Chủ Tịch.

1954: Trở về tiếp quản thủ đô. Được tổ chức biên chế vào “tổ sáng tác” cùng các hoạ sĩ Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng…

Hiệp định Giơnevơ chia cắt đất nước thành hai miền.Hoà bình ở miền Bắc.Mỹ vào miền Nam.

1988: Ngày 12 tháng 12 hoạ sĩ Dương Bích Liên mất tại căn phòng của ông – 55 phố Bà Triệu – Hà Nội. Cũng năm này ngày 24 tháng 6 hoạ sĩ Bùi Xuân Phái mất tại Hà Nội, ngày 16 tháng 12 hoạ sĩ Nguyễn Sáng mất tại TP Hồ Chí Minh. 5 năm sau hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí mất tại TP Hồ Chí Minh.

2000: Hoạ sĩ Dương Bích Liên được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (đợt II).

Dương Bích Liên sinh ngày 17 tháng 7 năm 1924 tại Hà Nội.Trước ngày Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương chính thức ra đời chưa đầy một năm. Quê hương của ông nằm bên bờ kia sông Hồng, thuộc Khoái Châu, Hưng Yên. Xuất thân trong một gia đình trí thức quan lại. Khác với truyền thống cuả nhiều người trong dòng họ Dương, lập nghiệp theo con đường nhân sĩ, giáo chức và làm thuốc, Dương Bích Liên lại thích hội hoạ. Ông sinh viên khoá cuối cùng của trường Mỹ thuật Đông Dương cùng các họa sĩ: Phan Kế An, Kim Đồng…

    Ông lớn lên trong bối cảnh “Văn Hoá – Tây Học” đang làm ảnh hưởng mạnh ở Việt Nam, đã tạo ra một tầng lớp trí thức và thị dân có nhiều thay đổi trong suy nghĩ, cách nhìn và lối sống. Đó là thời cường thịnh của phong trào Thơ mới, của tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn, của hội họa Salon và của phong trào vận động dân chủ…với khao khát “canh tân” và “cách mạng” Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Dương Bích Liên và nhiều tri thức văn nghệ sĩ Hà Nội tham gia kháng chiến. Hoạt động ở đoàn kịch của Phạm Văn Khoa, đoàn văn công của Nguyễn Xuân Khoát, vào đoàn văn hoá kháng chiến cùng với họa sị Tô Ngọc Vân, nhà thơ Thế Lữ..Làm báo “Vệ quốc đoàn”.

    Một kỷ niệm đáng nhớ cùa hoạ sĩ trong thời kì này là buổi kết nạp Đảng cùng một lúc cho ba trí thức văn nghệ sĩ Thủ đô trong lán trại giữa rừng gồm: nhà văn Trần Đăng, hoạ sĩ Mai Văn Hiến và Dương Bích Liên vào cuối năm 1949.

    Cuối mùa xuân năm 1952, đang công tác taị một ngôi làng ở Thái Nguyên, họa sĩ được cử lên Việt Bắc để vẽ vị Chủ Tịch đầu tiên của đất nước. Trong suốt thời gian ở cạnh Bác, họa sĩ chỉ vẽ ký hoạ làm tài liệu chứ chua vẽ một tác phẩm lớn nào về người.

    Tháng 10 năm 1954, hoạ sĩ Dương Bích Liên cùng với những đoàn quân chiến thắng trở về tiếp quản Thủ đô.Cũng như một số gia đình tư sản Hà Nội, gia đình hoạ sĩ đã di cư vào Nam.Tài sản của gia đình đã được nhà nước quốc hữu hoá.Ông là người tham gia kháng chiến, được tiêu chuẩn ở một căn phòng nhỏ trong chính ngôi nhà của mình.Nơi đây ông đã sống và lặng lẽ làm việc cho đến ngày qua đời. Hoạ sĩ được các tổ chức biên chế vào “tổ sáng tác” cùng nhóm với các họa sĩ Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm.. Trong suốt khoảng thời gian từ năm 1954 đến năm 1962 họa sĩ chỉ vẽ được một vài tác phẩm: “Ngày mùa”-sơn dầu, “Đi học đêm”- sơn dầu… đây cũng là những tác phẩm mà ông đã phác thảo từ kháng chiến.

Dương Bích Liên

Nguyễn Hào Hải - Trần Hậu Tuấn

450.000 đ

Đọc Nguyễn Tư Nghiêm - Một mệnh đề đứng riêng

      Nói rằng Nguyễn Tư Nghiêm (sinh 1922) là họa sĩ Việt Nam nhất, thì còn bị bắt bẻ.Nhưng nếu nói rằng trong đời sống cũng như trong nghệ thuật, ông là một riêng biệt hồn nhiên và tự tại, thì hoàn toàn đúng.

      Ở hai phương diện, ông im lặng và thể nhập.

      Gặp Nguyễn Tư Nghiêm, ta có thể tin cái tuyệt đối này: bản chất của nghệ thuật, từ Đông sang Tây, từ Phi sang Mỹ và Châu Đại Dương, là một. Không một nền nghệ thuật, một thế kỷ nghệ thuật, hay một nghệ sĩ nào là hòn đảo hoang trơ trọi cả. Và, cả cái tương đối này, sự tiếp biến và điều hòa văn hóa là hiển nhiên, và ngày càng được con người tôn trọng.

      Nghệ thuật Nguyễn Tư Nghiêm bao hàm một ngữ pháp tổng hòa về nhịp điệu, đường nét và hình tượng của nghệ thuật truyền thống dân tộc.

      Học xong Ecole des Beaux-Art de l’Indochine, nhưng ông không hề theo lối chuyển hóa thiên nhiên thành da thịt chính xác, thậm chí trắng trợn, lên tranh như nhiều thế kỷ của nghệ thuật bác học Phương Tây đã từng phân tích.

      Trái lại, Nguyễn Tư Nghiêm ước định, tổng hợp và tích hợp tất cả vào trực cảm mạnh mẽ và sâu lắng của cá nhân, không biện luận.Còn có thể nói là phi hệ thống cũng được.Nó bác bỏ cái bề ngoài nguyên vẹn, nhưng hời hợt, của sự vật, mà hướng về cái hỗn độn phức tạp bên trong.

      Nếu theo cách nhặt riêng từng chi tiết bằng kiến thức, thì tranh Nguyễn Tư Nghiêm chứa đựng không cứ gì những yếu tố ban sơ của nghệ thuật Đông Sơn, Tây Nguyên hay lão luyện của thời Lê - Nguyễn mà cả tận Châu Đại Dương, Phi rồi Lập thể, Biểu hiện... cho tới tận Pop-Art. Nhưng nhìn bằng cái chung tối hậu của thẩm mỹ, thì tranh ông gây cái cảm giác bâng quơ, tự ngộ, rất thú vị trong cử chỉ hội họa chậm chạp có khi ngớ ngẩn, dở dang. Nó không hề vội vã, thông minh như làm cho bằng được tới một giới hạn gọi là kết thúc của cái máy.

      Ông nói nhiều lần, thận trọng: “Tôi không gắn bó với một nghệ thuật nước ngoài nào cả, tôi chỉ tìm nơi dân tộc và thấy trong dân tộc có nhân loại và hiện đại”.

      Ông cũng nói: “ Nhìn thấy ở nghệ thuật hoang dã nhiều giá trị lớn”

      Tôi biết ý kiến Nguyễn Tư Nghiêm phát biểu tại cuộc tranh luận Hội họa ở Việt Bắc ngày 27-9-1949 về tranh của một bậc đàn anh, khi chúng ta kiên quyết theo đuổi khuynh hướng nghệ thuật Hiện thực xã hội chủ nghĩa. Theo ông, họa sĩ này “dùng bàn tay đều đặn như một cái đồng hồ, vẽ cẩn thận, rõ ràng như một cái máy đang quay, im lặng như một cái mặt đứng yên. Thoạt đầu, thấy có những cử động, nhưng nhìn lâu ta hoài nghi, bật ra câu hỏi, đây là người thực phải không? Ta bỗng có cảm giác bị đánh lừa, ở đây có một cái gì chết, giả tạo”. Trước đây ông này nhìn cảnh thực nhưng vẽ hoàn toàn những ý nghĩ, những tưởng tượng của mình. Bây giờ, trái lại, ông bước sang sự thực và bước quá đà, từ ca tụng sự thực đến sùng bái sự thực.

      Nghệ thuật không thể thiếu cái bí mật, và cái tôn thiêng mà tranh Nguyễn Tư Nghiêm xưa nay có vậy. Nhưng điều này buộc ta phải vượt bỏ cái kiến thức tri giác để đi đến cái kiến thức thẩm mỹ. Trước một điệu múa cổ, một Thánh Gióng, một con rồng, một vòm cây, một Thúy Kiều... của ông, ta đừng đặt câu hỏi rằng Nguyễn Tư Nghiêm đã dùng phương tiện hội họa nào, mà nên hỏi rằng vì sao phương tiện hội họa ấy đã được ông lựa chọn ưu tiên, để nói lên cái nhìn riêng của mình vào thế giới.

      Như vậy, ta sẽ trả lời được vì sao trước cái tâm thần ảo dị, lao lung của tác phẩm Nguyễn Tư Nghiêm, người xem dừng phắt lại mà trước nhiều cuộc trưng bày long trọng khác, người ta đã bỏ đi qua.

      Người xem chờ đọc được một cái gì đằng sau cái nhìn thấy.

      Tranh Nguyễn Tư Nghiêm không có cái “có”, và không có cái “không có”.Chúng lướt qua nhau, xâm lấn vào nhau.Nghĩa là ở đó không có sự phân chia cứng nhắc và vô nghĩa mà đời sống thực muốn vậy. Tôi tin rằng, những ý tưởng nghệ thuật im lặng giấu mình của Nguyễn Tư Nghiêm nói lên được nỗi lo âu trắc ẩn của thân phận con người và dân tộc trước sự tranh chấp giữa đức hạnh và thói hư, trước cả sự sụp đổ của tà đạo và quỷ thần.

      Nếu, Nguyễn Tư Nghiêm là mệnh đề đứng riêng trong nghệ thuật hiện đại Việt Nam, thì đó là, bởi ông đã tự chối bỏ cả chính mình, để mặc cho sự cám dỗ bí mật và tôn thiêng của Cái Đẹp lôi cuốn đi.*

Bài viết cho quyển Nguyễn Tư Nghiêm, Nhà xuất bản Mỹ thuật, 1994.

Thái Bá Vân

 

 

----------------------------

 

 

Vẻ đẹp của sự tha thứ

      Ông mặc nhiên được coi là bậc thầy từ khi rất trẻ.Tài năng là cái gì đó hiển nhiên trong ông.Cốt cách cũng như là được thiên phú. Hai cai đó cho phép ông luôn tự tại, tự tin mà “thiền” mà xuất-nhập mà chủ “nhu thắng cương” trong cả nghệ thuật lẫn cuộc đời. Cái đắng cay, cái cô độc, cái nhẫn chịu hay sự hoan hỷ, tự hào, tung hoành sảng khoái… đều có thể thấy trong tác phẩm của ông. Sự phong phú bất ngờ, sự sâu sắc đáng kính nể, sự cổ kính có thực và nét hiện đại “buông tuồng phá phách” hoà làm một trong hội họa của ông làm cho sự phân tích đánh giá trở nên phiến diện. Có những miền khí hậu khác nhau với tất cả những gì ta cảm nhận ở đó khó mà tách bạch từng yếu tố ra được. Nguyễn Tư Nghiêm là một miền khí hậu như vậy trong hội họa.

      Thập niên gần đây ông vẫn tự đủ với những hình tượng đã được ông sinh ra từ trước: Thánh Gióng, Múa cổ, các Con Giống… nhưng hình như tác phẩm của ông tổng hợp hơn. 12 Con Giống có màu sắc hợp phép của y- lí-số và chạy theo vòng tuần hoàn biểu tượng vũ trụ. Các cô gái nửa hư nửa thực ngay cả khi ông vẽ bà Thu Giang. Cả những tranh ông vẽ cho “Sưu tập Thu Giang” cũng như “Cố sự tăng biên” của Lỗ Tấn vậy. Trong sự tổng hợp mới này ta không thấy cái cồng kềnh của những cố gắng hay cái nặng nề của sự triết lý mà thấy toát ra cái thư thản “bất cần đời” của một tâm hồn vị tha và đằm thắm; của sự tha thứ… một “đức tính” tiên quyết để lọt vào “nước Trời”.

Nguyễn Quân

Hội Hoạ Đương Đại Việt Nam

Trần Hậu Tuấn

360.000 đ

Niên biu Bùi Xuân Phái: e

1900:           - Từ đầu thế kỷ 20 thực dân Pháp cơ bản hoàn thành nền móng đô hộ ở Việt Nam. Hà Nội trở thành trung tâm chính trị của toàn sứ Đông Dương thuộc Pháp.

1920:          - Bùi Xuân Phái sinh tại Hà Nội (ngày 1 tháng 9).

1925:          - Victor Tardieu thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội.

1929:          - Triển lãm đầu tiên của các sinh viên trường Mỹ thuật Đông Dương (15/11).

1930:          - Đảng Cộng Sản Đông Dương (sau này là đảng Cộng Sản Việt Nam) thành lập.

1935:          - Triển lãm tranh sơn mài nghệ thuật của các họa sĩ Trường Mỹ thuật Đông Dương tại Việt Nam.

1935-1940: - Vẽ nhiều tranh vui và minh họa cho một số báo tại Hà Nội: báo “Phong hoá”, báo “Ngày nay”…

1936:          - Vào học lớp dự bị trường Mỹ thuật Đông Dương.

1937:          - Nhà điêu khắc Evariste Jonchère lên thay vị trí hiệu trưởng trường Mỹ thuật Đông Dương của Victor Tardieu.

1939-1945: - Đại chiến Thế giới II.

1940:          - Bắt đầu vẽ phố.

                   - Ông Bùi Xuân Hộ thân sinh ra ông Bùi Xuân Phái mất tại Hà Nội (1877-1940).

                   - Tham dự triển lãm tại Tokyo: Bức tranh “Phố Hàng Phèn” sơn dầu, được bán ngay tại triển lãm. Đây là lần đầu tiên họa sĩ bán được tranh.

1941-1945: - Tháng 7 năm 1941 chính thức trở thành sinh viên khóa XV trường Mỹ thuật Đông Dương. Cùng khóa với Nguyễn Tư Nghiêm, Huỳnh Văn Gấm, Tạ Thúc Bình…

                   - Thánh 12 năm 1943 Mỹ đánh quân đội Nhật và ném bom Hà Nội. Trường Mỹ thuật Đong Dương sơ tán lên Sơn Tây.

                   - Giảng viên trường Mỹ thuật Đông Dương có họa sĩ Tô Ngọc Vân và Nam Sơn.

1945:          - Ngày 9 tháng 3 Nhật đảo chính Pháp, trường Mỹ thuật Đông Dương bị đóng cửa.

                   - Vẽ chân dung Hồ Chí Minh và nhiều chân dung trong tuần lễ văn hóa đón phái đoàn Đồng minh tại Hà Nội tổ chức tại nhà hát lớn và Câu lạc bộ Đoàn kết Hà Nội.

                   - Từ 1925-1945 trường Mỹ thuật Đông Dương đào tạo 149 người. Tốt nghiệp 128 người (118 hội họa v 10 điêu khắc).

1945-1952: - Công tác tại báo “Cứu quốc”, báo “Vui sống” và phòng Thông tin Văn hóa quân khu III. Cùng hoạt động có các nghệ sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Huy Tưởng…

1946:          - Dự kỳ thi tốt nghiệp của trường do họa sĩ Tô Ngọc Vân tố chức. Đây là cuộc thi tốt nghiệp đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

                   - Giải thưởng Mỹ thuật toàn quốc.

1947:          - Đi thực tế Thanh Hoá, Cầu Thiều…Tham gia trại sáng tác cùng các văn nghệ sĩ Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Văn Cao, Sỹ Ngọc, Nguyễn Văn Tý…

1948:          - Tại chiến khu Việt Bắc vẽ bức “Cây đa nước chảy” (Tuyên Quang) và “Phố Thầu” (Cao Bằng). Vẽ nhiều tranh chân dung và phong cảnh Việt Bắc.

1949:          - Tham gia triển lãm Mỹ thuật do Ủy ban Kháng chiến Liên khu 3 tổ chức. Bức “Dân quân” – sơn dầu và tranh cổ động “Đóng thuế nông nghiệp”.

1950:          - Tham gia triển lãm trong tổng kết thường niên do Hội văn nghệ Liên khu. Bức “Nắng mới”- bột màu và “Nữ du kích”- khắc gỗ.

1951:          - Lấy vợ, bà Nguyễn Thị Sính, sinh năm 1927 (nữ sinh trường Đồng Khánh Quốc học Huế) tại khu IV Cầu Thiều- Thanh Hóa.

1952:          - Trở về Hà Nội sống cùng gia đình tại số 87 phố Thuốc Bắc cho đến cuối đời (24/6/1988).

                   - Sinh con gái đầu lòng, Bùi Yến Lan.

                   - Bị Pháp bắt giam tại nhà tù “Hỏa Lò” Hà Nội 15 ngày vì nghi là cán bộ Việt Minh.

                   - Thể nghiệm sơn mài. Sau khi hoàn thành hai bức tranh “Chân dung” khổ 30x40 cm và “Nông thôn” khổ 50x70 cm, họa sĩ nhận thấy thể tài này không phù hợp với tư chất của bản thân và không bao giờ họa sĩ trở lại vẽ tranh sơn mài.

1953:          - Lập xưởng vẽ tại 87 Thuốc Bắc. Nhóm vẽ có các họa sĩ Hoàng Tích Chù, Hoàng Lập Ngôn, Nguyễn Trọng Niết, Tạ Tỵ…vẽ nhiều tranh chân dung thiếu nữ và khỏa thân. Nghiên cứu, tìm tòi theo xu hướng lập thể.

1954:          - Hà Nội giải phóng.

                   - Tham gia Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 2 bức “Tình quân dân” và “Em yêu hòa bình”.

                   - Sinh con trai trưởng Bùi Kỳ Anh.

1956-1957: - Giảng viên trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội.

                   - Sự kiện Nhân văn giai phẩm.

                   - Sinh con trai thứ, Bùi Thanh Phương.

                   - Thành lập khu tự trị Việt Bắc.

                   - Trở lại Cao Bằng vẽ nhiều tài liệu về phong cảnh miền núi và đồng bào dân tộc. Vẽ “Phố chợ Nguyên Bình” (hiện bày tại Bảo tàng Dân tộc Việt Nam).

1958:          - Tham gia viết và minh họa chon nhiều tờ báo ở Hà Nội với bút danh “Vivu”, “Ly”, “PiHa”.

                   - Sinh con gái thứ tư, Bùi Ngọc Trâm.

                   - Đi lao động ở Nam Định trong chương trình “Ba Cùng” được bố trí vào phân xưởng mộc.

                   - Toàn bộ căn nhà 87 Thuốc Bắc gia đình bán và thay đổi chỗ ở. Riêng họa sĩ Bùi Xuân Phái cùng vợ con thuê lại một phòng tiếp tục sống tại 87 Thuốc Bắc.

                   - Vẽ tại nhà 77 Hàng Bồ cùng họa sĩ Nguyễn Trọng Niết.

1958-1968: - Họa sĩ tự do. Vẽ thiết kế cho sân khấu chèo, cải lương cùng đạo diễn Trần Hoạt, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bắc…vẽ nhiều tranh bột màu và sơn dầu đề tài “Sân khấu chèo”.

1959:          - Sinh con gái thứ năm, Bùi Tuyết Nhung.

1959-1963: - Vẽ nhiều tranh sơn dầu về phố cổ Hà Nội. Bùi Xuân Phái được coi là họa sĩ phát hiện ra vẻ đẹp và dựng nên hình ảnh của phố cổ Hà Nội từ những năm đầu hòa bình lặp lại.

                   - Vẽ nhiều kí họa và sơn dầu về đề tài tranh khỏa thân.

1964:          - Mỹ mở rộng chiến tranh và ném bom miền Bắc Việt Nam.

                   - Được vào trở lại biên chế nhà nước.

                   - Công tác tại “Tổ sáng tác” Hội nghệ sĩ tạo hình Việt Nam.

1965:          - Đi thực tế tại Thanh Hóa vẽ nhiều đề tài dân quân, phong cảnh và biển Thanh Hoá.

1966-1968: - Vẽ nhiều tranh sơn dầu phong cảnh nông thôn, phong cảnh miền núi (đề tài về ngựa) và tự họa.

                   - Tầng trên tại xưởng vẽ tại 87 Thuốc Bắc bị sập do trúng tên lửa của Mỹ, một số tranh và nhiều tại liệu bị phá hủy, xưởng vẽ hư hỏng nặng.

1968:          - Đi thực tế Quảng Ninh vẽ nhiều tranh về Cát Bà, mỏ than, Vịnh Hạ Long…

1969:          - Giải thưởng Hội văn nghệ Hà Nội bức “Phân xưởng nhuộm”- sơn dầu tại triển lãm Mỹ thuật Hà Nội.

1970-1972: - Vẽ nhiều tranh trừu tượng trên chất liệu bột màu, sơn dầu. Nhân kỉ niệm 100 ngày sau ngày mất của ông, gia đình mới chính thức giới thiệu bằng một triển lãm chuyên đề tranh “Trừu tượng”, được bày tại gia đình –87 Thuốc Bắc, Hà Nội (Ở Việt Nam mãi đến năm 1993 mới có “Triển lãm tranh trừu tượng” đầu tiên của các họa sĩ hai miền tổ chức tại Gallery Hồng Hạc, Sài Gòn)

-     Mỹ dùng máy bay B52 ném bom Hà Nội trong 12 ngày đêm. Vẽ nhiều tranh trắng đen và bột màu đề tài tự vệ Hà Nội bắn máy bay, tĩnh vật, tự họa…được vẽ dưới hầm.

1974:          - Con trai lớn Bùi Kỳ Anh nhập ngũ quân đội, vẽ nhiều tranh đề tài “Người chiến sĩ trẻ” và chân dung.

1975:          -  Giải phóng miền Nam, đất nước thống nhất (ngày 30/4).

1976:          - Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam mua bức “Chân dung thiếu nữ”- sơn dầu giá 300 đồng Việt Nam (đây là bức tranh đầu tiên của Bùi Xuân Phái được Bảo tàng Mỹ thuật mua).

1977:          - Con trai Bùi Kỳ Anh xuất ngũ về lại gia đình.

1978:          - Ngày 19/3 con trai Bùi Kỳ Anh mất do tai nạn giao thong. Họa sĩ vẽ nhiều tranh tĩnh vật bàn thờ, hoa quả, nhang đèn như một sự thương nhớ người con trai cả của mình.

1979:          - Đi TP. Hồ Chí Minh 2 tháng (tháng 10 và tháng 11) vẽ nhiều tranh về phố Sài Gòn, phố Hà Nội, chân dung, chèo, trừu tượng với chất liệu sơn dầu. Họa sĩ gặp lại nhiều người bạn đồng nghiệp sau 30 năm đất nước bị chia cắt.

1980:          -  Giải thưởng Mỹ thuật toàn quốc bức “ Bến phà ở song Đà”- sơn dầu, 97.5 x 70 cm. Hiện bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

                   - Với chính sách mở cửa của chính phủ Việt Nam, bắt đầu có nhiều khách quốc tế đến thăm xưởng vẽ, mua nhiều tranh và đem r nước ngoài.

                   - Sáng tác nhiều tranh sơn dầu kích thước lớn, được vẽ bằng những họa phẩm chất lượng cao. Màu sắc không còn u ám và đã bắt đầu rực rỡ vui tươi. Trên tranh vẽ phố bắt đầu xuất hiện nhiều người đi lại với xe đạp, xích lô…

1981:          - Đi thực tế Đà Nẵng (8 tháng 7 – 30 tháng 8) vẽ nhiều tranh bột màu và sơn dầu về phố cổ Hội An, song Hàn Đà Nẵng, biển Mỹ Khê…

                   - 29 tháng 5 tham gia đóng một vai phụ “Họa sĩ” trong phim “Hi vọng cuối cùng”.

                   - 9 tháng 9 chính thức nghỉ hưu.

1982:          - Về cuối đời Bùi Xuân Phái thích vẽ biển, biển được ông khai thác với đầy đủ trạng thái của nó. Lúc bình yên êm dịu, khi bão tố hung dữ. Đôi lúc các “Nữ dân quân biển Thanh Hoá” lại xuất hiện trở lại, hoặc thiếu nữ khỏa thân vui đùa trên cát như thách thức vẻ đẹp v những khát vọng của những số phận mỏng manh, cô đơn trước thiên nhiên.

                   - Đi Cộng hoà Dân chủ Đức 2 tuần ( 12 tháng 7 – 25 tháng 7) tiêu chuẩn sau khi nghỉ hưu.

                   - Nhận giải thưởng đồ họa (Leipzing-CHDC Đức) bộ tranh minh họa hề chèo.

                   - Được “Ủy ban Công Giáo chống đói vì sự phát triển (CCFD)” mời đi Pháp, không được đi.

                   - 28 tháng 12 tham gia đóng phim “Hà Nội trong mắt ai”.

1983:          - Giải thưởng Triển lãm Mỹ thuật Thủ Đô bức tranh sơn dầu “Quốc Tử Giám”.

                   - Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam mua thêm hai bức tranh sơn dầu “Cát Bà” và “Quốc Tử Giám”.

                   - 5 tháng 11 hãng phim UKRAINA, Liên Xô quay bộ phim “Phố cuả Phái” giới thiệu về sự nghiệp và cuộc sống của họa sĩ Bùi Xuân Phái.

1984:          - Lần đầu tiên sau hơn 40 năm lao động nghệ thuật, ông mới được nhà nước cho phép tổ chức một triển lãm cá nhân lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất (khai mạc ngày 22 tháng 12 năm 1984 kết thúc ngày 22 tháng 1 năm 1985). Triển lãm trưng bày 108 bức gồm sơn dầu, bột màu, khắc gỗ, cắt giấy).

                    -Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam mua thêm ba bức tranh sơn dầu “Phố Phất Lộc”, “Phố Hàng Mắm” và “Ô Quan Chưởng”

                   - Giải thưởng Triển lãm Mỹ thuật Thủ Đô bức tranh sơn dầu “Ô Quan Chưởng”.

1985:          - Được bầu vào Ban chấp hành Hội văn nghệ Hà Nội.

1986-1988: - Vẽ nhiều tranh về đề tài khỏa thân và minh họa theo ý thơ của Hồ Xuân Hương.

1987:          - Bà Trần Thị Vân thân sinh ra Bùi Xuân Phái mất tại Hà Nội (1895-1987).

                   - Giải thưởng Triển lãm Mỹ thuật Thủ Đô bức tranh sơn dầu “Thiếu nữ bên Hồ”, 81 x 100 cm.

1988:          - Sau triển lãm cá nhân duy nhất (1984) đến cuối đời, họa sĩ vẽ nhiều tranh tự họa. Các bức tranh tự họa ít khi được giữ lâu trong gia đình ông. Nó được bạn bè trong và ngoài nước yêu thích, mua và mang đi ngay cả khi chưa kịp khô sơn.

                   - Tháng 4 lâm bệnh ung thư phổi.

                   - Tham gia đóng phim do Australia thực hiện.

                   - Được “Ủy ban công giáo chống đói vì sự phát triển (CCFD)” mời đi Pháp và được sự chấp thuận chính thức của Hội nghệ sĩ tạo hình Việt Nam. Chuyến đi không thực hiện được vì Bùi Xuân Phái đang nằm bệnh viện.

                  - Mất hồi 2h40 phút ngày 24 tháng 6 tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô, hưởng thọ 68 tuổi.

                  - Ngày 27 tháng 6 năm 1988 lễ tang được cử hành tại trụ sở Hội Văn nghệ Hà Nội. An táng tại khu  A nghĩa trang Văn Điền.

                  - Cùng năm này hoạ sĩ Dương Bích Liên mất ngày 12 tháng 12 tại Hà Nội và họa sĩ Nguyễn Quang Sáng mất ngày 16 tháng 12 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hà Nội ngày 31 tháng 5 năm 2003

 

Bùi Thanh Phương-Trần Hậu Tuấn
 

 

 

Con mắt của trái tim

      Bùi Xuân Phái ( 1921-1988) là một trong những khuôn mặt đặc biệt, đáng yêu và hiếm hoi nhất của nền mỹ thuật Việt Nam.

      Ở Việt Nam, nếu không kể một biệt lệ là Lê Văn Miến ( 1873-1943) tốt nghiệp trường Mỹ thuật Paris 1895 rồi bỏ nghề, không để lại một ảnh hưởng gì nố nghiệp, thì nền mỹ thuật hiện đại được gắn liền với sự ra đời của trường Mỹ Thuật Đông Dương, do người Pháp mở ở Hà Nội, 1925-1945, và Bùi Xuân Phái là thế hệ cuối cùng.

      Khi ông bước vào trường, 1941, thì thế hệ đàn anh như Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Tô Ngọc Vân… đã nổi tiếng ở Paris và Hà Nội từ mười năm trước, tại cuộc triển lãm 1931

      Khi ông ra trường, 1946, thì thế giới nghệ thuật đang bước vào thời kỳ hậu chiến và phân hóa kịch liệt. Picasso, Matisse, Léger đã được xếp hạng là những bậc thầy cổ điển, trường phái Paris đã xa dần. Ở Pháp, B.Buffer, J.Bazaine, E. Hartung, G. Mathieu, P. Soulages, N. de Stael, S. Poliakoff; Ở Đức, A.O. Wols; ở Hà Lan, K. Appel, với những thông báo thẩm mỹ nghịch lý của tâm trạng, cùng một lúc tự do bước lên diễn đàn. Châu âu mở hết cường độ cho xu hướng Trừu tượng trữ tình, và ở Mỹ thì xu hướng biểu hiện trừu tượng.

      Tất cả những hình ảnh đó đều có trong con mắt Bùi Xuân Phái, con mắt của trái tim. Và ông đã tìm được kích thước của chính mình trong khuôn khổ ngặt nghèo của xã hội, để rồi như một mạch nước ngầm, ngày càng lan rộng và thẩm thấu chân thành  đến tận những tâm hồn xa lạ.

      Bùi Xuân Phái là đứa con ruột thịt của Hà Nội, và được coi la họa sỹ số một của linh hồn thành phố này. Phố cổ Hà Nội cô cùng hội họa, và nói theo nghĩa đen của nghệ thuật, thì chính là Bùi Xuân Phái đã phát hiện ra nó. Đây là mảng tranh ưu quyền nhất  của ông mà ông đã theo đuổi trong gần một nửa thế kỷ, cũng như bây giờ chúng còn theo đuổi chúng ta và bạn bè trên thế giới dài lâu.

      Bùi Xuân Phái đã vẽ nó trong mọi tâm trạng, bằng mọi chất liệu và kích thước, từ trên những tấm vải sang trọng đến trên một tờ báo cũ, một chiếc bì thư, một vỏ thuốc lá, một vỏ diêm. Ông đã vẽ nó từ nguyên hình thể đến trừu tượng , khi nó chỉ còn là nhịp điệu và ánh sáng gần, xa của kỉ niệm. Tôi đã gọi nó là “phố tiềm thức” trong mộc cuộc triễn lãm gần đây tại nhà riêng của ông, Ở đó ta có thể nhận ra được bước đi song song như khi P. Mondrian vẽ hàng loạt Cây (1911-1913), hay Mặt biển (1914-1916), như P.Klee vẽ Thành Phố đang bay (1930), như P.Klee vẽ Thành phố đang bay (1930). Làng trong núi đá (1932), Làng và núi đồi (1934)…

      Chính Bùi Xuân Phái cũng không biết là mình đã vẽ bao nhiêu phố cổ, và chúng đã quanh quẩn vào tận những ngõ ngách nào của Hà Nội hay đã lưu lạc tận chân trời nào của Châu Á, Châu Au, Châu Mỹ. Nhưng tôi biết ông rất vui lòng. Mà chính số phận lang thang của tranh ông đã làm ông nổi tiếng.

      Sưu tập Bùi Xuân Phái của Trần Hậu Tuấn là một sưu tập đẹp. Mới và trẻ, nhưng số lượng và chất tranh đều là xuất sắc, ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài.

      Ở đây ta sẽ gặp đường nét của Bùi Xuân Phái, không bao giờ đơn thuần là chu vi của một hình thể, mà sẵn sàng đậm đặc, run rẩy, khác thường. Nó là cái tương đồng hội họa ngay lúc bấy giờ đã nẩy trong ông. Màu sắc cũng vậy, chúng chỉ là tượng trưng cho sự có mặt của một thực tại đã từng được tiên nghiệm. Bởi vậy, phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái có giá trị ký kiệu, chủ quan. Nó ám thị một điều gì khác, nó hòa nhập làm một người họa sỹ vào đối tượng.

      Ta có thể dùng khái niệm Einfuhlung của W. Woringer đẻ nói về tranh của Bùi Xuân Phái: nó là sự “cùng-đẻ ra” của phố cổ Hà Nội. Tác giả và người xem. Mà ông cũng không phải chỉ là họa sỹ của phố cổ, và chỉ thành công ở đấy.

      Ta thử đặt một lần cạnh nhau những phố cổ và những làng quê của Bùi Xuân Phái trong sưu tập Trần Hậu Tuấn. Ta sẽ thấy rõ hơn con mắt của trái tim ông, và tin tưởng hơn ở chủ thể sáng tạo. Cũng như xưa kia, Van Gogh, Cézanne, Gauguin, Marquet đều thành đạt lớn lao và khẳng định chính mình ở những không gian xa vắng, những thị trấn nhỏ,những làng mạc và hòn đảo bị bỏ quên. Và các ông đã kéo dài đời sống mong manh của chúng đến hàng thế kỷ.

      Những nhà tranh vách đất, những đứa trẻ bế em, những con bò kéo xe trên ngõ xóm gập ghềnh, những gốc cây chứa đầy cổ tích của Bùi Xuân Phái đều chung một thế giới nhân văn với phố cổ Hà Nội. Một thế giới tiềm thức và kỉ niệm, nhưng đồng thời chúng lại là hiện tại, những nét khắc ăn sâu nhất vài tâm thức Việt Nam.

      Làng quê Bắc kỳ còn vọng nhiều tiếng trống Chèo trong loạt tranh vẽ sân khấu, dập dình nhịp điệu và màu sắc tươi vui của Bùi Xuân Phái. Ở đây ông duyên dáng và hóm hỉnh lạ thường. Cũng cần để ý hơn một chút đến bản chất đậm đà của sân khấu Chèo, những chiếc yếm đào và quạt xếp, lối bông đùa nhả nhớt nơi đình đám của những gã hề, những nhịp lệch trong dàn nhạc, để cảm thụ động tác hội họa của ông.

      Từ khi xuất hiện mảng tranh Chèo, rồi những minh họa cho tập sách Hề Chèo(1977) và sau đó cho tập thơ nôm Hồ Xuân Hương, người ta mới nhận ra cái khía cạnh dí dỏm đến nghịch ngợm của bàn tay Bùi Xuân Phái. Ở đây, cũng như ở phố cổ Hà Nội, ông luôn là người phát hiện và đứng đầu, tưởng như trước và sau ông vẫn la khoảng trống.

      Bùi Xuân Phái có những gặp gỡ nghệ thuật với trường phái Paris. Gặp Picasso và Matisse trong tinh hoa của đường nét, gặp Marquet trước ánh hắt của biển va sông, gặp Van Gogh trong thâm tâm tự họa, gặp Mondrian và Klee trong tiềm thức phố phường.

      Nhưng bao giờ ông cũng biết tìm và đặt mình đúng giới hạn, nơi ông có thể thao diễn hết cử chỉ hội họa của mình với chân thành vá tự trọng, bao giờ ông cũng giữ được phẩm chất nho nhã và trầm tưởng của người tri thức Việt Nam trước thời cuộc. Và ở đó, còn phảng phất chút sầu tư định mệnh.

      Tôi có được đọc ở trang đầu một cuốn sổ tay (1971) của Bùi Xuân Phái câu sau đây của Rouault ghi nguyên bằng tiếng Pháp: “J’ai éte si heureux de peindre, fou de peinture, oubliant tout dans le plus noir chagrin” (Tôi rất sung sướng được vẽ, mê cuồng hội họa, quên tất cả trong chốn u sầu tăm tối nhất)

      Có khi tôi tự hỏi, nếu hội họa Việt Nam không có Bùi Xuân Phái? Và tôi tự trả lời, thì có một khoảng trống không bù đắp được trong tâm tưởng và hình hài Hà Nội, ở Việt Nam va ở mọi chân trời.

      Tôi xin trân trọng và vui mừng được gặp sưu tập Bùi Xuân Phái của Trần Hậu Tuấn, một người chơi tranh có nhãn thức tinh tường về tác giả và có công gìn giữ cho chúng ta cái tài sản tinh thần vô giá.

Thái Bá Vân

Bùi Xuân Phái - Con đường hội họa

Bùi Thanh Phương Trần Hậu Tuấn

580.000 đ

1998-2008 Triển lãm tại TP.Hồ Chí Minh, Singapore, Hồng Kông, Paris, Hà Nội.

Một số tác phẩm điêu khắc ngoài trời tại Huế, TP.Hồ Chí Minh, An Giang, Vũng Tàu, Hải Phòng.

Một số tác phẩm được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật ở các nước Châu Á, Châu Âu, Mỹ, Bắc Mỹ, Nhật, Úc.

      Nguyễn Quân là người có đóng góp ban đầu đáng kể cho phong trào hội họa trẻ.Tranh của ông là sự giải phóng hoàn toàn cả về quan niệm lẫn hình thức nghệ thuật. Với Nguyễn Quân, mọi trật tự hình thể có thể bị đảo lộn, đỗ vỡ hoàn toàn hoặc tháo rời một cách phi lí. Cái hiện thực, cụ thể, đan xen với cái tưởng tượng, ảo giác. Do vậy, hội họa của Nguyễn Quân chứa đựng cả tinh thần chủ nghĩa biểu hiện, xen lẫn các ám ảnh siêu thực và nhục cảm riêng tư, mang màu sắc Á Đông. Nguyễn Quân tạo ra cho mình một phong cách hướng nội riêng, đồng thời cũng thể hiện tinh thần cải cách táo bạo, ngược hẳn với tư duy và quan niệm tạo hình truyền thống luôn có tính hướng ngoại. Có thể điều này đã ảnh hưởng tới một số họa sĩ trẻ miền Bắc những năm 90.Ông cũng là người khởi xướng nhiều cuộc triển lãm của họa sĩ trẻ sau đổi mới, và là người có công đầu tiên giới thiệu nghệ thuật trẻ Việt Nam ra nước ngoài.

Nguyễn Quân 10 năm One decade 98-08

Trần Hậu Tuấn - Phan Cẩm Thượng

280.000 đ